BÍ QUYẾT LÀM BÀI THI TOPIK NGHE (토픽 듣기) TRONG PHÒNG THI ĐẠT 98-100 ĐIỂM
Luôn có thời gian để đọc trước đáp án. Ví dụ sau khi làm xong câu 1 (vì đã chọn được đáp án đúng) phải tranh thủ chuyển sang các câu 2,3,4... đọc đáp án thật nhanh.
Đừng cho rằng mình có thể vừa nghe radio vừa suy nghĩ, phân tích vừa đọc được đáp án. Tốc độ chuyển giữa các câu chỉ có vài giây, nên ưu tiên việc đọc trước đáp án.
Đọc và note lại keywords trong từng đáp án. Keywords là những từ khoá tiêu biểu đưa ra nội dung trọng tâm của mỗi đáp án. Và nhớ rằng keywords càng ngắn gọn thì càng tốt. Vì bản chất của việc note keywords là để có thể bao quát cũng như phân loại các đáp án, từ đây giúp cho quá trình làm bài thuận lợi hơn vì không phải tiếp thu quá nhiều thông tin. Dưới đây là một số bài note keywords mình hướng dẫn học sinh trong các tiết ôn, cả nhà tham khảo luyện tập nhé.
Các câu 1-20 chỉ được nghe một lần. Nội dung phân bố đều từ dễ đến tương đối dễ, nên cần phải ưu tiên làm nhanh và chính xác.
Chọn được đáp án đúng rồi thì không cần phải nghe được nội dung đoạn hội thoại còn lại.
Việc học và hiểu rõ yêu cầu của từng dạng bài là rất quan trọng.
Câu hỏi có trọng tâm là nhân vật nào thì phải chú ý lắng nghe lời thoại của nhân vật đó.
VD: Câu hỏi chọn 남자의 중심 생각 (quan điểm của người đàn ông) thì phải tập trung hoàn toàn vào thoại của người đàn ông. Có thể để ý thêm câu hỏi của người phụ nữ để suy luận xem người đàn ông sẽ trả lời như thế nào. Ví dụ người phụ nữ hỏi "어떻게 해야 합니까?“, tức là đang hỏi về phương pháp, cách thức. Vậy nên câu trả lời của người đàn ông cũng phải đưa ra được nội dung liên quan đến phương pháp, cách thức. Từ đây có thể suy luận để loại trừ đáp án sai hoặc chọn cụ thể đáp án đúng.
Các yếu tố liên quan đến thì (hiện tại, quá khứ, tương lai) là những keywords hữu ích cho quá trình nghe, bao gồm các từ chỉ thời gian, đuôi câu...
VD:
Một số đặc điểm của thì quá khứ (sự việc đã xảy ra) như: 어제, 지난 번, 지난 주, 지난 달, 았/었/했, (으)ㄴ 적이 있다...
Một số đặc điểm của thì tương lai (sự việc chưa xảy ra) như: 내일, 모레, (으)ㄹ 예정이다/계획이다, (으)려고 하다...
Câu 3 biểu đồ phải nghe đến cuối rồi mới chọn đáp án vì câu này hay lừa. Các dạng biểu đồ thường thấy là biểu đồ đường và biểu đồ tròn/ biểu đồ thanh ngang. Để làm tốt, cần phải nắm được đặc trưng của mỗi loại:
Biểu đồ đường vì đưa ra diễn biến tăng giảm của hiện trạng trong một khoảng thời gian nhất định, nên sẽ xuất hiện những từ miêu tả tăng giảm ví dụ như: 계속 증가하다, 계속 감소하다, 대폭으로 증가, 큰 폭으로 증가,... và các thông tin liên quan đến năm, hoặc khoảng năm (từ năm x... đến năm y...)
Biểu đồ tròn hoặc biểu đồ thanh ngang đưa ra tỷ lệ chiếm hữu hoặc xếp hạng thứ tự các đối tượng, nên sẽ xuất hiện kết cấu liệt kê (từ cao xuống thấp): ... 가장 높게 나타났으며/ 가장 많았고... 그 뒤를 이었다.
Đừng quá bận tâm về những câu nghe không được. Cứ để đó, lát quay lại chọn bừa đáp án sau.
Phải thật tập trung từ câu đầu tiên của đoạn hội thoại, nếu cứ mang tâm lý tiếc nuối những câu không nghe được thì sẽ dễ mất bình tĩnh và xao nhãng trong câu tiếp theo.
Các câu từ 21-22 trở đi được nghe hai lần, đề sẽ cho một đoạn ngữ liệu và hai câu hỏi tương ứng. Mình cảm thấy thích hoặc làm tốt câu nào có thể làm trước câu đó. Nên làm những câu hỏi chi tiết trước rồi mới làm đến câu bao quát.
Ví dụ câu 21 hỏi 남자의 중심 생각, nên tập trung nghe câu này trước vì câu này dễ làm hơn. Sau đó mới làm đến câu 22 들은 내용과 같은 것, vì câu này nhiều nội dung hơn, phải suy nghĩ và phân tích nhiều hơn.
Những câu hỏi có phần đuôi đáp án giống nhau, ví dụ như câu 23 (남자가 무엇을 하고 있는지 고르십시오 - Chọn xem người đàn ông đang làm gì), phần đuôi trong đáp án đều dùng ~고 있다.
Trường hợp này, chỉ cần note và quan tâm các động từ + tân ngữ đi kèm (cụm chứa 을/를), không cần phải đọc chi tiết cả câu.
Tỷ lệ phân bố đáp án đúng là 12-12-13-13 cho bốn đáp án 1/2/3/4. Khi khoanh bừa những câu không nghe được hoặc không chọn được, phải suy ra tỷ lệ từ những câu mình đã chọn được.
Ví dụ: Đã có 10 câu mình chọn đáp án , thì cần phải điền thêm 2-3 câu chung đáp án này.
